Giới thiệuThế mạnhĐường đếnĐối tác toàn cầuÝ kiến khách hàngTìm kiếmVụ việcVụ việcPhân tích & Xu hướngThông tin pháp luậtHỏi đáp pháp luậtĐánh giáLĩnh vựcKiện tụng người nước ngoàiTất cảĐội ngũLuật sư kiện tụng người nước ngoàiTin tức & Tài liệuBáo chíThông báoBlog pháp luậtBiểu mẫu pháp lýBản tinHội thảoLĩnh vực
Tin tức & Tài liệu
Đặt lịch tư vấn

2026-08-31
![[기고] AI가 감시한다? 마약류 처방, 의료진이 알아야 할 법적 기준](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fd1tgonli21s4df.cloudfront.net%2Fupload%2Fboard%2Fbroadcast%2F20260831084654261.webp&w=3840&q=100)
Phương thức quản lý của chính phủ đối với thuốc gây nghiện dùng trong y tế đang thay đổi. Từ tháng 7/2026, Cục Quản lý An toàn Thực phẩm và Dược phẩm vận hành hệ thống giám sát thường trực 365 ngày sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và thực hiện giám sát đặc biệt đối với các thuốc gây mê dùng trong y tế có nguy cơ nghiện, lạm dụng cao như propofol. Từ trước đến nay, việc kê đơn, sử dụng thuốc gây nghiện dùng trong y tế vẫn được quản lý qua Hệ thống Quản lý Tích hợp Thuốc gây nghiện (NIMS).
Tuy nhiên, giờ đây hệ thống giám sát ngày càng tinh vi hơn theo hướng phân tích dữ liệu tích lũy bằng AI để chọn lọc các dấu hiệu bất thường nghi ngờ lạm dụng hoặc rò rỉ bất hợp pháp và kết nối với việc kiểm tra tại hiện trường. Đối với cơ sở y tế, chỉ việc "đã kê đơn thuốc gây nghiện hợp pháp" thôi có thể là chưa đủ. Bởi họ đang hành nghề trong môi trường mà dữ liệu về việc kê đơn cho ai, vì bệnh gì, liều lượng bao nhiêu, trong bao lâu được tích lũy và phân tích. Vậy nhân viên y tế cần xác nhận điều gì và chuẩn bị điều gì.
AI phát hiện dấu hiệu bất thường thì có phải ngay lập tức là kê đơn bất hợp pháp không
Trước hết cần phân biệt rõ. Việc lượng propofol sử dụng của một cơ sở y tế cụ thể nhiều hay việc zolpidem được kê dài hạn cho cùng một bệnh nhân, tự bản thân nó không phải là vi phạm Luật Quản lý Thuốc gây nghiện. Thuốc gây nghiện dùng trong y tế vừa là dược phẩm được quản lý nghiêm ngặt do có khả năng lạm dụng, vừa là dược phẩm có thể sử dụng hợp pháp để điều trị.
Do đó, thực tế thống kê rằng lượng kê đơn nhiều và phán đoán pháp lý rằng từng đơn thuốc là bất hợp pháp không giống nhau. Chức năng quan trọng của việc giám sát thường trực bằng AI nằm ở việc tìm ra các dấu hiệu bất thường khác với mô hình thông thường trong khối thông tin xử lý thuốc gây nghiện khổng lồ để chọn lọc đối tượng kiểm tra hiệu quả hơn.
Vấn đề nằm ở bước tiếp theo. Khi dấu hiệu bất thường được xác nhận dẫn đến điều tra hành chính hay điều tra hình sự, nhân viên y tế cuối cùng phải giải thích liệu có nhu cầu y tế để kê đơn, sử dụng dược phẩm đó cho bệnh nhân đó hay không. Do đó, đối với cơ sở y tế, điều nguy hiểm nhất không phải đơn thuần là trường hợp lượng kê đơn nhiều, mà là trường hợp lượng kê đơn nhiều nhưng khó xác nhận lý do trong hồ sơ bệnh án.
Thuốc gây nghiện dùng trong y tế, cái gì bị quản lý
Khi kê đơn thuốc gây nghiện dùng trong y tế, nhân viên y tế phải phân biệt xem xét vài vấn đề. Thứ nhất là mục đích y tế và tính hợp lý của việc kê đơn. Người hành nghề y xử lý thuốc gây nghiện có thể sử dụng hoặc kê đơn thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần vì mục đích y tế. Tuy nhiên, việc sử dụng hay kê đơn ngoài mục đích y tế, việc kê đơn lặp lại quá mức nghi ngờ lạm dụng, v.v. có thể trở thành vấn đề theo Luật Quản lý Thuốc gây nghiện.
Đặc biệt, Cục An toàn Dược phẩm đã xây dựng tiêu chuẩn sử dụng an toàn riêng đối với các thành phần có nguy cơ lạm dụng cao như propofol, zolpidem, thuốc ức chế thèm ăn, thuốc giảm đau gây nghiện dùng trong y tế để hướng dẫn kê đơn hợp lý. Do đó, thay vì kê đơn chỉ vì là dược phẩm được cấp phép, nhân viên y tế phải xem xét cùng nhau chỉ định điều trị, liều dùng một lần, liều dùng một ngày, thời gian dùng thuốc, việc dùng kết hợp và tiền sử dùng thuốc quá khứ của bệnh nhân.
Tuy vậy, cũng có điểm cần lưu ý ở đây. Không phải mọi đơn thuốc đi chệch tiêu chuẩn sử dụng an toàn của Cục An toàn Dược phẩm đều ngay lập tức trở thành đối tượng xử phạt hình sự. Bởi tùy tình trạng bệnh nhân, có thể có trường hợp cần thiết về mặt y tế phải kê đơn khác với tiêu chuẩn. Ngược lại, việc chỉ tuân thủ tiêu chuẩn sử dụng an toàn về hình thức cũng không làm mọi đơn thuốc trở nên hợp pháp. Cuối cùng, căn cứ y tế và nội dung khám thực tế cho thấy đơn thuốc đó cần thiết cho từng bệnh nhân mới là cốt lõi.
Việc kiểm tra tiền sử dùng thuốc mở rộng đến cả zolpidem, quy trình xác nhận trước khi kê đơn rất quan trọng
Từ ngày 19/6/2026, zolpidem đã được bổ sung vào các thành phần thuộc đối tượng của chế độ kiểm tra tiền sử dùng thuốc gây nghiện dùng trong y tế. Chế độ kiểm tra tiền sử dùng thuốc gây nghiện dùng trong y tế là chế độ nhằm ngăn chặn cái gọi là 'mua sắm y tế' hay kê đơn trùng lặp/quá mức, khi bác sĩ trước khi kê đơn kiểm tra tiền sử dùng thuốc gây nghiện dùng trong y tế trong 1 năm qua của bệnh nhân đi vòng qua nhiều cơ sở y tế để được kê thuốc giống/tương tự. Điều quan trọng đối với nhân viên y tế là không phải mọi thuốc gây nghiện dùng trong y tế đều áp dụng nghĩa vụ kiểm tra như nhau. Phải phân biệt theo từng thành phần đối tượng xem việc kiểm tra là nghĩa vụ pháp lý hay khuyến nghị, và mỗi khi chế độ thay đổi cần xác nhận thuốc mình đang kê thuộc phạm trù nào. Đặc biệt, nếu xác nhận được bệnh nhân đã được kê cùng thành phần tại bệnh viện khác, hoặc xác nhận tiền sử kê đơn lặp lại trong thời gian ngắn ở nhiều cơ sở y tế, thì cần thận trọng với việc phớt lờ điều đó mà lặp lại đơn thuốc cũ. Do đó, cơ sở y tế cần quy định thành quy trình nội bộ về việc phải kiểm tra tiền sử dùng thuốc khi kê thuốc nào, ai kiểm tra và ghi kết quả đó vào đâu.
Một dòng ghi 'mất ngủ' thôi có thể là chưa đủ
Trong vụ việc thuốc gây nghiện dùng trong y tế, tài liệu quan trọng cuối cùng là hồ sơ bệnh án. Ví dụ, giả sử hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được kê zolpidem dài hạn chỉ ghi 'insomnia' hay 'mất ngủ' mỗi lần khám. Dù thực tế chứng mất ngủ của bệnh nhân nặng đến mức cần điều trị bằng thuốc liên tục, nếu không thể xác nhận trong hồ sơ lý do đơn thuốc cùng liều lượng được lặp lại trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, thì ở giai đoạn điều tra sẽ khó giải thích nhu cầu y tế của việc kê đơn.
Do đó, với bệnh nhân kê đơn lặp lại/dài hạn, thay vì chỉ ghi tên chẩn đoán, nên đảm bảo hồ sơ có thể xác nhận được việc triệu chứng có kéo dài hay không và mức độ, hiệu quả của đơn thuốc trước, phản ứng bất lợi, việc có thực hiện phương pháp điều trị khác hay không, lý do duy trì/tăng/giảm liều, sự cần thiết tiếp tục kê đơn, v.v. Đặc biệt, khi bệnh nhân lặp đi lặp lại yêu cầu kê đơn sớm hay tăng liều, hoặc khẳng định làm mất thuốc để đòi kê lại, hay khi xác nhận tiền sử kê đơn ở nhiều cơ sở y tế, cần ghi lại các tình tiết này và phán đoán của nhân viên y tế.
Propofol cũng vậy. Thay vì chỉ ghi tên thủ thuật và liều dùng, cần có thể xác nhận vì thủ thuật nào mà cần an thần, nếu có dùng lặp lại thì lý do là gì, tình trạng bệnh nhân và diễn tiến dùng thuốc ra sao. Điều quan trọng không phải là lượng hồ sơ. Quan trọng là dù người thứ ba sau này xem hồ sơ cũng có thể hiểu vì sao khi đó bác sĩ kê đơn như vậy.
Dù kê đơn hợp lý nhưng báo cáo NIMS sai thì trở thành vấn đề riêng
Có phần mà nhân viên y tế thường bỏ sót. Có thể nghĩ 'đã kê đơn hợp lý thuốc cần cho bệnh nhân nên không có vấn đề', nhưng ở thuốc gây nghiện dùng trong y tế, tính hợp lý của đơn thuốc và tính hợp lý của báo cáo xử lý có thể được xử lý như hai vấn đề riêng biệt. Người xử lý thuốc gây nghiện phải báo cáo lên Hệ thống Quản lý Tích hợp Thuốc gây nghiện các nội dung xử lý theo luật định như mua, sử dụng, dùng thuốc, pha chế, chuyển nhượng, tiếp nhận, tiêu hủy. Do đó, dù việc dùng thuốc thực tế được thực hiện bình thường, nếu báo cáo NIMS bị bỏ sót, hoặc lượng sử dụng thực tế khác với lượng báo cáo, hoặc tồn kho trên sổ sách không khớp với tồn kho thực tế thì vấn đề có thể phát sinh.
Đặc biệt cơ sở y tế sử dụng thuốc tiêm như propofol càng phải thận trọng. Nếu trên EMR ghi đã dùng 1 lọ nhưng NIMS lại báo cáo số lượng khác, hoặc không xác nhận được quá trình tiêu hủy thuốc gây nghiện còn lại sau khi dùng, hoặc tồn kho bảo quản thực tế và tồn kho trên hệ thống liên tục không khớp, thì có thể không kết thúc chỉ ở lỗi hành chính đơn thuần. Do đó, cơ sở y tế cần xây dựng cấu trúc liên kết với nhau: lượng kê đơn EMR → lượng xuất thực tế → lượng dùng thực tế → lượng còn lại/tiêu hủy → lượng báo cáo NIMS → lượng tồn kho thực tế.
Vi phạm thì có vấn đề gì
Vi phạm quản lý thuốc gây nghiện dùng trong y tế, tùy loại hình, có thể trở thành vấn đề xử phạt hình sự và xử phạt hành chính theo Luật Quản lý Thuốc gây nghiện, và cũng có thể dẫn đến các chế tài ảnh hưởng trực tiếp đến việc vận hành cơ sở y tế như đình chỉ nghiệp vụ xử lý thuốc gây nghiện. Đặc biệt, hành vi sử dụng hoặc kê đơn thuốc gây nghiện hay thuốc hướng thần ngoài mục đích y tế, việc xử lý bất hợp pháp bởi người không phải người xử lý thuốc gây nghiện, báo cáo giả/sai hay vi phạm nghĩa vụ báo cáo lặp lại, v.v. tùy vụ việc có thể dẫn đến quy trình hình sự.
Thêm vào đó, trường hợp cơ sở y tế cấp đơn thuốc gây nghiện dù thực tế không khám bệnh nhân, hoặc kê đơn dưới tên người khác, hoặc người hành nghề y tự dùng thành phần bị cấm tự dùng hay cấp đơn thuốc cho chính mình, v.v. có thể phát sinh vấn đề pháp lý riêng. Do đó, cơ sở y tế không được chỉ xem vấn đề liên quan thuốc gây nghiện đơn thuần là vấn đề 'quản lý lượng kê đơn'. Cần xem như một hệ thống quản lý thống nhất từ nhu cầu y tế của đơn thuốc, xác nhận và khám bệnh nhân, kiểm tra tiền sử dùng thuốc, dùng thuốc thực tế, báo cáo xử lý, bảo quản/tồn kho và tiêu hủy.
Điều cơ sở y tế cần xác nhận ngay bây giờ là
Điều cơ sở y tế cần làm trong thời đại giám sát thường trực bằng AI không phải là giảm đơn thuốc một cách đồng loạt. Trước hết cần lập danh mục thuốc gây nghiện dùng trong y tế cơ sở đang sử dụng, và xác nhận tiêu chuẩn sử dụng an toàn mới nhất theo từng thuốc cùng việc có thuộc đối tượng kiểm tra tiền sử dùng thuốc hay không. Tiếp theo, cần tự kiểm tra tiền sử kê đơn trong một khoảng thời gian gần đây để chọn lọc các bệnh nhân có khả năng kê dài hạn, kê liều cao, kê lặp lại trong thời gian ngắn, kê lại sớm, kê trùng lặp đa cơ sở, và xác nhận trong hồ sơ bệnh án có căn cứ giải thích các đơn thuốc đó hay không.
Cũng cần chỉnh đốn EMR. Với bệnh nhân kê đơn lặp lại, nên đảm bảo có thể ghi triệu chứng và hiệu quả điều trị, phản ứng bất lợi, việc có kiểm tra tiền sử dùng thuốc hay không, lý do duy trì/thay đổi đơn thuốc, và có thể xem xét cả phương thức thông báo cho nhân viên y tế khi có đơn thuốc rủi ro cao. Cơ sở y tế trực tiếp bảo quản/dùng propofol, v.v. cần kiểm tra riêng cả việc quản lý NIMS. Cần định kỳ đối chiếu tồn kho thực tế với tồn kho trên hệ thống, và khi có chênh lệch phải xác nhận nguyên nhân. Cũng cần quy định rõ quy trình tiêu hủy và người phụ trách.
Cuối cùng, không được giao phó công việc này cho riêng một nhân viên cụ thể. Cần chỉnh đốn quy trình nghiệp vụ nội bộ và xây dựng hệ thống tự kiểm tra định kỳ để bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hành chính, người phụ trách xử lý/báo cáo thuốc gây nghiện vận hành theo cùng một tiêu chuẩn từ kê đơn - dùng thuốc - báo cáo - tồn kho - tiêu hủy.
Thời đại AI, điều quan trọng không phải 'kê ít đơn' mà là 'đơn thuốc có thể giải thích được'
Quy chế đối với thuốc gây nghiện dùng trong y tế càng được siết chặt thì càng có lo ngại nhân viên y tế co cụm quá mức cả với những đơn thuốc cần thiết. Tuy nhiên, hiểu tôn chỉ của việc giám sát thường trực bằng AI là 'chế độ xử phạt bác sĩ kê nhiều thuốc gây nghiện' là không chính xác. Dữ liệu có thể là điểm khởi đầu để phát hiện dấu hiệu bất thường, nhưng tính hợp lý của từng đơn thuốc cuối cùng phải được đánh giá qua tình trạng bệnh nhân và phán đoán y tế của nhân viên y tế. Tuy vậy, phán đoán đó có thể là chưa đủ nếu chỉ dựa vào trí nhớ hay giải thích sau này.
Việc nhân viên y tế giải thích sau khi điều tra bắt đầu rằng "khi đó là đơn thuốc cần thiết về mặt y tế" và việc có thể xác nhận quá trình phán đoán đó trong hồ sơ được ghi tại thời điểm khám là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Do đó, câu hỏi mà nhân viên y tế kê đơn thuốc gây nghiện dùng trong y tế phải tự đặt ra rất đơn giản. Không phải 'có thể kê đến bao nhiêu', mà là 'có thể giải thích bằng hồ sơ vì sao đã kê thuốc này cho bệnh nhân này với liều này trong khoảng thời gian này hay không'.
Giờ đây khi việc giám sát thường trực thuốc gây nghiện dùng trong y tế sử dụng AI đã bắt đầu, điều cơ sở y tế cần làm đầu tiên không phải là giảm đơn thuốc một cách vô điều kiện. Đó là kê đơn cần thiết cho bệnh nhân cần thiết, nhưng xây dựng hệ thống mà toàn bộ quá trình từ phán đoán y tế đó đến dùng thuốc thực tế, báo cáo NIMS và quản lý tồn kho được liên kết bằng hồ sơ.
|Bài viết đóng góp| Luật sư Yun So-yeong, Công ty Luật Daeryun
[Xem toàn văn bài viết]
[Bài viết đóng góp] AI giám sát? Kê đơn thuốc gây nghiện, tiêu chuẩn pháp lý mà nhân viên y tế cần biết (Truy cập)
Mọi lĩnh vực Xem tổng quan
1/0
Đặt lịch tư vấn trực tiếp
Nếu có vướng mắc pháp lý, hãy tư vấn với luật sư chuyên về Tố tụng liên quan đến người nước ngoài tại văn phòng gần bạn